Cơ bản về thuế GTGT, Thuế dành cho giám đốc (CEO)

Ờ. Ừ. Tôi xin được thông qua cái phạm vi cũng như là cái nội dung chương trình của ngày hôm nay là như thế đấy thì thay mặt cho công ty startup catching thay mặt cho giámđốc.net và ban tổ chức xin được trân trọng cảm ơn các anh chị thực sự rất cảm ơn các anh chị đã có mặt rất đông đủ với một hội trường đông đúc như thế này. Nó tạo hưng phấn khá là lớn cho tôi ở trên này. Chủ đề thuế dành cho chủ doanh nghiệp và giám đốc điều hành phạm vi vấn đề 3 sắc thuế là thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp bây giờ thế này theo trình tự thì chúng ta sẽ nói về thuế giá trị gia tăng trước theo trình độ của chúng ta sẽ nói về cái kia.

Chi tiết hỏi thêm, tí nữa mới lập trình gia tăng thì thay thế được cái gì? Trước kia Việt Nam áp dụng thế thì và sau này thì là cái kia pham. Ngày xưa là thuế doanh thu. Thế thì thuế doanh thu. Cái bản thân cái tên của nó là chúng ta biết rồi. Là thuế thu trên doanh thu. Thuế thu trên doanh thu thì người ta nói rằng nó là shark thuế mà dẫn đến tình trạng là đánh thuế trùng. Dẫn đến tình trạng là đánh thuế chuẩn. Vậy thì nó trùng như thế nào? Và sau này nó thay thế= thuế giá trị gia tăng thì liệu nó đã khắc phục được cái tình trạng đánh thuế trùng đối với doanh nghiệp hay chưa? Thì tôi xin được. Trở lại một chút à từ cái bản chất nội hàm của nó để chúng ta hiểu vì khi chúng ta hiểu được bản chất của sắc thuế rồi thì sau này chúng ta sẽ không còn sợ văn bản thuế nữa. Vì nếu không thì hiện nay chúng ta đang rất sợ văn bản thuế vì mỗi 1, 5 đâu đó có vài trăm cái cái cái cái văn bản được ra đời mà tôi nói thật là bản thân bọn tôi là những người làm về chuyên môn, nghiên cứu rất là thường xuyên đọc không xuể. Nhớ tên văn bản cũng không xuể luôn. Vậy thì sao doanh nghiệp có thể tiếp cận được? Hoặc thậm chí sự bất đồng nhất giữa các văn bản ở trong 1 5 chứ tôn chưa nói là các thời kỳ. Rồi chưa kể đến việc là việc vận dụng triển khai áp dụng cũng như quản lý ở các địa phương khác nhau là có sự khác nhau. Nhưng nếu chúng ta hiểu được bản chất của vấn đề nhé, chúng ta hiểu được bản chất của sắc thuế, bản chất của thủ tục thì sau này, dù người ta có thay đổi cơ nào đi chăng nữa thì các anh chị vẫn biết được rằng chúng ta triển khai như vậy là đúng hay sai và chúng ta sẽ giải quyết được một việc là không nhất thiết phải đọc tất cả các văn bản của ngành thuế họ ban hành. Chỉ nghe cái tên Xem nó có động chạm gì đến các hoạt động của ta không, còn nếu nó đã không động chạm rồi thì thôi. Đó là chuyện của xã hội, ta không liên quan đến tài. Còn nếu không thì chúng ta cứ ờ không biết, bây giờ cái văn bản đó nó như thế nào, tìm hiểu ra làm sao và kế toán tương đối mệt mỏi với với với cái việc đó thì bây giờ trở lại thế này. Nếu ngày xưa là thuế doanh thu giả sử với một chai nước này. Thì nó sẽ có những công đoạn sau đây. Công đoạn thứ nhất là người ta khai thác cái nước. Từ dưới hầm lên. Công đoạn thứ 2 ấy là cái thằng sản xuất bao bì. Nó đổ cái này. Cái công đoạn thứ 3 là cái thằng in ấn ấy nó in cái nhãn này. Nhá, đây là tôi nói ít nhất cho đến khi chai nước này nó hình thành thì nó có 3 cái đoạn có 3 cái anh nó tham gia vào như thế một đấy là cái ông làm vỏ trai 2 là cái ông làm bao bì 3 là cái ông gì ạ? Làm nước. Thế bây giờ nước khai thác nên đánh thuế phát, tức là thuế doanh thu mà. Đúng không ạ? Nước khai thác nên về mặt bản chất, nếu bán nước không là đánh thuế phát thế. Bây giờ đến cái anh mà nó làm bao bì, nó làm cái vỏ chai này là cái anh đó là sản xuất bao bì, chúng nó không sản xuất nước thì nó làm ra cái bao bì nó lại bán cho cái thằng sản xuất nước thì đầu tiên cái chai này bị đánh thuế cái đã. Được chưa nào? Tiếp tục đến cái thằng cái, thằng nó làm in ấn ấy, nó cũng in ra cái nhãn này, nó bán cho cái ông sản xuất nước. Cái nhãn này bị đánh thuế một phát ạ. Như vậy thì đến khi cái chai nước này nó hình thành. Lại ít nhất là đã có thuế của cái phần nhãn thuế cổ phần bao bì và đến khi nó đóng hình thành cái này, nó bán ra bên ngoài thì toàn bộ từ nước cho đến chai mọi thứ này nó tạo ra doanh thu mà lại bị đánh thuế một phát nữa trên toàn bộ cái giá trị đó. Đấy là đấy là nói trường hợp này, cái thằng sản xuất, nó bán trực tiếp cho thằng tiêu dùng thì bây giờ nó lại xảy ra. Trường hợp nữa là cái thằng sản xuất này nó bán cho một thằng thương mại. Thằng thương mại nhập cái nước về lại bán cho thằng khác và cứ như vậy, cứ doanh thu tạo ra ở đâu thì lập tức tính% thuế trên đỏ, tức là thuế đánh trực tiếp trên doanh thu bán ra. Và cứ như vậy, người ta gọi là trường hợp nó xảy ra trường hợp gọi là đánh thuế trùng, tức là thuế chồng lên thuế. Vì thế, vì thế cho đến 5 1999. Thì Việt Nam ban hành thuế VAT. Bắt đầu áp dụng từ 5 2000. Ấy thì. Thuế VAT. VA là giá trị tăng thêm. Là giá trị tăng thêm. Và t viết tắt của chính sách thuế, tức là thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm. Thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm, vậy thì với bản chất là thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm như thế thì một câu hỏi cần phải được giải quyết, đó là làm thế nào để xác định được cái VA này? Tức là làm thế nào để xác định được giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế và trong hoạt động của doanh nghiệp? Đó là một. Cái thứ 2 phải xác định được một cách chính xác, đối tượng nào là đối tượng phải nộp thuế? Và câu chuyện thứ 3. Nhà nước sẽ quản lý cái đó thế nào? Vậy với 3 câu hỏi này? Nó tạo ra một loạt các văn bản. Có liên quan đến thuế giá trị gia tăng ngày nay mà chúng ta đang áp dụng xoay cho cùng nó chỉ giải quyết 3 chuyện này thôi. Xin cho cùng chỉ giải quyết 3 câu chuyện này. Vậy thì bây giờ làm thế nào để xác định được giá trị gia tăng? Thì bây giờ chúng ta lại minh chứng một tí về cái gọi là giá trị gia tăng. Nếu tôi là doanh nghiệp kinh doanh thương mại, tôi mua chai nước này với giá 5.000 VND. Tôi mang về tôi bán lẻ ra ngoài và nếu tôi bán được 6.000 VND. Thì ở đây nó có 1.000 VND chênh giữa cái tiền tôi bán ra và tiền tôi mua vào thì đó chính là giá trị gia tăng. Còn đối với doanh nghiệp sản xuất toàn bộ giá trị của vật tư tôi mua vào, tôi đưa vào nhà máy. Sau đó tôi sản xuất ra thành phẩm thì cái chênh lệch giữa giá thành của sản thành phẩm đó. Ở khâu mà tôi sẽ bán ra so với cái giá thành tôi tôi tôi tôi sản xuất, tức là cái giá bán ra và giá thành sản xuất. Nó chênh nhau bao nhiêu? Ví dụ, tôi sản xuất ra chai nước này là hết 4000 nhưng tôi bán ra là 5000 thì cũng 1000, đó là giá trị tăng thêm. Vậy bản chất của giá trị tăng thêm là không phân biệt ở quá trình sản xuất, lưu thông hay phân phối. Miễn là cứ có sự chênh lệch về mặt giá trị ở khâu bán ra so với khâu mua vào hoặc khâu sản xuất thì đó là giá trị tăng thêm, vậy thì thuế giá trị gia tăng là cái thuế mà chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm đó thôi. Điều đó có nghĩa là. Trong trường hợp tôi mua vào nước này 5000 mà tôi cũng bán là 5000. Thì giá trị gia tăng= máy= không. Trong trường hợp đấy, hàng hóa không chịu thuế sẽ 0, 0, 0, 0 bị đánh thuế vì thực chất, tức là nó có chịu thuế nhưng mà nó không phát sinh đúng rồi nó có chịu thuế nhưng nó không phát sinh nghĩa vụ thuế. Vậy nếu trong trường hợp tôi mua vào 5000, tôi bán có 4000 thì cũng không phát sinh cái gì? Trong trường hợp đấy là giá trị gia tăng bị ẩm. Tức là lỗ vốn đấy thì nó cũng không phát sinh. Ấy vậy thì bây giờ câu chuyện nó xảy ra thế này. Câu chuyện nó xảy ra thế này. Trong toàn bộ cái hoạt động của doanh nghiệp như thế. Thế thì lúc này thì ông mua hàng hóa này, lúc khác thì ông mua hàng hóa khác, doanh nghiệp này thì mua hàng hóa này, doanh nghiệp khác thì mua hàng hóa khác. Vậy làm thế nào để nhà nước quản lý được cái câu chuyện đó thì thì.

Làm thế nào để nhà nước quản lý được cái câu chuyện đó thì người ta mới sinh ra, người ta mới sinh ra một cái cơ chế gọi là cơ chế báo cáo. Kê khai báo cáo. Mà để kê khai được báo cáo thì nó thông qua một cái nó gọi là chế độ. Hóa đơn. Thêm nữa. Thuế giá trị gia tăng này đánh vào thằng nào? Thằng nào chịu thuế? Doanh nghiệp chịu thuế. Hay thằng nào chả thế? Người tiêu dùng à? Bản chất đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng này là thằng nào tiêu dùng? Nhưng tiêu dùng là tiêu dùng cuối cùng. Thằng nào là thằng tiêu dùng cuối cùng thì đó là đối tượng đối tượng mà phải nộp thuế đó. Còn hàng hóa là đối tượng chịu thuế, nhưng mà cái đối tượng phải nộp thuế phải trả cái tiền thuế này là người tiêu dùng cuối. Vậy thì để quản lý được đâu là người tiêu dùng cuối, người ta cũng thông qua cái cơ chế báo cáo mà để báo cáo được thì phải có chế độ hóa đơn. Vậy thì đã nhắc đến thuế giá trị gia tăng thì phải nhắc đến những câu chuyện một xác định cho= được cái v à, tức là giá trị gia tăng và phải đi chung với nó câu chuyện về hóa đơn. Về hóa đơn chứng từ. Đó vậy thì về mặt pháp lý đầu tiên, người ta cần có luật thuế giá trị gia tăng. Luật thuế. Đầu tiên, người ta có cần có luật thuế giá trị gia tăng? Vấn đề triển khai luật thuế giá trị gia tăng này, người ta có nghị định? Của chính phủ. Và để hướng dẫn thực hiện cái nghị định này thì người ta có cái gì à có cái thông tư hướng dẫn. Vậy nếu thông tư mà hướng dẫn chưa đầy đủ thì người ta lại có cái thông tư bổ sung điều chỉnh đúng không? Thông tư bổ sung điều chỉnh và trong quá trình hoạt động, nếu như trong trường hợp. Mà còn có vướng mắc cần có sự trợ giúp trả lời thêm chăng nữa thì người ta có công văn hướng dẫn và trả lời. Đó thì cái lộ trình về mặt pháp lý nó đi là như thế anh chị nhé. Đầu tiên để điều chỉnh các sắc thuế là thuế giá trị gia tăng, người ta ban hành luật thuế để thực thi luật thuế này. Người ta có nghị định hướng dẫn của chính phủ để nghị định này đi vào hoạt động của doanh nghiệp được người ta cần phải hướng dẫn một cách chi tiết, đó là các thông tư. Thế thì nhưng mà trong quá trình thực hiện theo hướng dẫn của thông tư này, nó vẫn còn vướng mắc mà đối tượng tức là doanh nghiệp hỏi người nộp thuế hỏi nhà nước trả lời đó là các công văn. Vậy thì chúng ta nhớ cái trình tự pháp lý này, nó đi như thế này. Nó ứng dụng với tất cả các loại. Thuế và các loại văn bản nói chung đã liên quan đến luật thì nó phải đi đủ theo cái trình tự này. Vậy thì khi mà người ta tìm kiếm các văn bản để điều chỉnh về câu chuyện như thế này. Thì các anh phải nhớ cho rằng à, vậy thì mình phải biết nó căn cứ vào luật nào? Luật đó? Theo nghị định nào được triển khai= nghị định nào? Nghị định đó được hướng dẫn bởi những thông tư nào và trong quá trình thực hiện thông tư như thế, nó có những công văn nhưng cái chết nhất ở Việt Nam. Công văn này thì có tính chất là văn bản trả lời. Trả lời. Nhưng đôi khi người ta dùng công văn này để áp đảo cái thông tư. Ừ đôi khi là như thế. Nghĩa là thông tư hướng dẫn một đằng. Nhưng nếu thông tư bao quát không hết thì dùng công văn để giải quyết. Và vì thế, số lượng công văn này 1 5 nó hàng nhiều nghìn cái công văn nó được ra đời vài câu chuyện đó nó dài nó dài thích tại sao đôi khi chúng ta vận dụng nó khó khăn vì ngay đến cái lúc người ta soạn cái thông tư hướng dẫn này, nó chưa đủ bao quát hết được tất cả các tình huống. Đấy thì đấy là về mặt trình tự của nó về trình tự văn bản bây giờ quay trở lại bản chất nội hàm của nó, đó là thuế được đánh trên giá trị tăng thêm đánh vào người tiêu dùng cuối cùng. Vậy bây giờ chúng ta phải xác định được thế nào là người tiêu dùng cuối cùng? Chẳng nhẽ bây giờ bán hàng cho nó? Tôi bán cho ông trà nước này. Bây giờ tôi hỏi ông ấy, ông mua nước về để bán cho con này hay là ông mua về uống? Ơ tôi mua về cái gì là kệ tôi? Đúng, làm thế nào để biết được? Thế thì nó thông qua cái chế độ hóa đơn này anh chị. Nó có cơ chế như sau, bây giờ tôi bán nước cho ông này. Tôi xuất hoá đơn cho ông ấy. Với tôi, đó là hóa đơn đầu ra để ghi nhận doanh thu, nhưng với ông này là hóa đơn đầu vào. Để ghi nhận đầu vào. Như vậy thì tôi cuối kỳ tôi cũng kê khai và ông này cũng kê khai. Trong trường hợp như vậy. Không cần biết là ông ta đang đang để chai nước ở đâu, chỉ cần biết rằng ông ta chưa có hoạt động bán ra. Khi ở tại thời điểm đó, ông ta tạo được xác định là người tiêu dùng cuối. Và bây giờ tiếp tục ông này ông lừa con này không bán thì nó mua của ông 5000 về bán cho nó 10.000 OK, thế thì lúc này ông ấy bán thì ông ấy lại xuất hóa đơn cho cô này. Vậy hóa đơn bán nước cho của ông trong trường hợp này của ông đấy là đâu ra? Nhưng với cô này nó là đầu vào. Vậy đến cuối kỳ lại tiếp tục kê khai báo cáo lúc bấy giờ. Ông ấy không còn đóng vai trò là người tiêu dùng cuối nữa mà lúc đấy chuyển sang cô này. Nếu cô này dừng lại ở đó thì cô ấy là người tiêu dùng cuối. Nhưng nếu cô ấy lại lừa bán cho thằng cha này thì cũng như vậy, cái tiến trình nó cứ lặp đi lặp lại như thế. Vậy thì nó cứ cái anh nào nó dừng ở đâu, anh không ta không đẩy hoá đơn ra nữa. Thì đó được xác định là người tiêu dùng cuối và đó là cái người phải trả cái tiền thuế. Dạ, thế thì. Đấy là cái phân tích một chút về bản chất nội hàm của sắc thuế. Và với bản chất nội hàm như vậy, giải quyết được câu chuyện đâu là giá trị tăng thêm và đâu là người phải trả tiền thuế và để giải quyết được những câu chuyện như vậy, nhà nước thu được thuế thì nó phải thông qua chế độ phải hoa đợt. Như vậy đối với thuế giá trị gia tăng về mặt văn bản pháp lý, các anh chị về phải gì ạ? Tìm cho= được luật thuế đâu? Nghị định nào, các thông tư nào hướng dẫn được chưa? Ấy thế mà trong các trường hợp vướng mắc thì đi tìm các công văn, người ta trả lời thì đó là cái dòng tư duy về mặt văn bản pháp lý liên quan đến thuế giá trị gia tăng. Nhưng đối với lại thuế giá trị gia tăng thì cái vướng mắc nhiều nhất nó đôi khi lại không nằm ở luật. Mà nó nằm ở cái này. Nằm ở chế độ hóa đơn. Đấy. Và chế độ hóa đơn thì trước kia là hóa đơn là phải lên cơ quan thuế đúng không ạ? Mua một cái sổ, nó gọi là sổ mua hoá đơn. Giống như ngày xưa người ta phát sổ gạo. Xong rồi là anh phải lên làm vấn đề là làm cái đề nghị mua hóa đơn. Thế mua xong người ta bán cho từng cuốn một thì mới về thì mới ngồi trên cơ quan thuế mới đóng dấu tại chỗ. Đóng dấu tại chỗ xong rồi mang về sử dụng dần và dùng đến đâu thì báo cáo đến đó 19.500 VND một cuốn và cực kỳ khổ. Vô cùng khó khăn đến kỳ mua hóa đơn thì các vị nào từng đi mua hóa đơn thì sẽ biết rồi ngồi chầu chực ở trên cơ quan thuế như thế nào để mua và cái điều đấy nó kết thúc vào 5 2010. Khi lúc đấy bây giờ là cái nghị định số 51. Nghị định 5 mốt và sau này thay thế mà nghị định số 0 4 đúng không? Đấy thì cái nghị định 5 mốt và được hướng dẫn bởi cái thông tư 1, 5, 3. Đấy là thay thế hoàn toàn cái chế độ hóa đơn theo kiểu lên cơ quan thuế để mua mà người ta trao lại cái quyền chủ động. Về việc phát hành và sử dụng hóa đơn cho doanh nghiệp giống như từ 5 2015 trở lại đây, người ta giao lại cái quyền chủ động phát hành con dấu, tức là đặt mẫu dấu và thông báo sử dụng mẫu dấu trở về cho doanh nghiệp chứ trước kia chúng ta thành lập doanh nghiệp là khi thành lập doanh nghiệp xong, nó kèm theo một cái cái cái con dấu thì nó có cái giấy chứng nhận sử dụng mẫu dấu anh nào thành lập trước 5 2015 thì sẽ biết chuyện đó. Nhưng nếu thành lập sau này thì nó không còn cái chuyện đó, nó không còn cái chứng nhận đó nữa, đúng không ạ? Mà anh sẽ thực hiện cái việc là tôi phải tự khắc con dấu vuông tròn gì đó, đó là chuyện của tôi. Đấy và với cái chuyện của tôi như thế thì tôi chỉ cần thông báo với sở kế hoạch đầu tư là tôi sẽ sử dụng cái mẫu đâu dấu đỏ và như vậy là được, nghĩa là trước kia là nhà nước quản lý hoàn toàn cả con dấu của chúng ta. Còn ngày nay con dấu là của chúng ta, thậm chí bây giờ chúng ta khác mấy dấu mấy con dấu cũng được đúng không ạ? Một cái đút vào túi và cái này đi cà phê xong bắt đầu là ngồi gọi điện thoại cái này bạn gái ngồi bên cạnh nhìn bắt đầu giúp giấy tờ ra đóng dấu xanh sạch trên bàn ấy cho nó oách. Thì đấy là cái cơ chế dần dần là người ta chuyển cái sự bị động của doanh nghiệp. Trở về cái quyền chủ động cho doanh nghiệp, nhưng đó là luật. Trước thực tế thì còn khó khăn lắm ở chỗ là bây giờ nói rằng con dấu là của doanh nghiệp nhưng đã mấy thằng nào dám khắc cái dấu không tròn đâu? Đúng không- những ông doanh nghiệp lớn hoặc là chúng ta thấy dạo này như là vin vin com vinfast ấy là gì ạ? Nó dấu là cái hình logo của nó luôn. Còn chúng ta không, chúng ta không dám. Tại sao chúng ta không dám? Vì giống hệt câu chuyện hóa đơn 5, 2011. Khi mà chuyển đổi từ hóa đơn phải mua cái con thuế, tức là hóa đơn có 3 liên tím đỏ màu xanh. Sau này chuyển sang hóa đơn được in= phần mềm và in= giấy in giấy, giấy trắng giấy a 4 thông thường đây này. Thì hàng đi trên đường, công an hỏi hóa đơn đâu nó chìa cái tờ giấy? Thực ra cái này không phải hóa đơn. Hà ngắc lại không đi được. Đấy thì bây giờ con dấu cũng như vậy. Đi giao dịch với nhiều cơ quan, doanh nghiệp, nhiều cơ quan, tổ chức. Người ta bảo rằng là con dấu này là không đúng với quy định, phải là dấu tròn. Từ xưa đến giờ, nó nhìn thấy dấu tròn dấu củ khoai khắc xong đóng ngay chứ có bao giờ nhìn thấy cái dấu hình dạng khác đâu? Cho nên là giữa cái quy định, kể cả luật pháp với việc chúng ta thực thi được thì nó còn một khoảng cách rất là xa. Mặc dù pháp luật và văn bản là rành rành rõ là như thế, cho nên cho nên nó mới sinh ra cái cơ chế là cơ chế các doanh nghiệp họ hay làm sao? Phòng thổ cho nó chắc nhé. Thôi cứ nói cái gì? Như thông lệ thị trường, thông lệ địa phương thì em làm cho nó dễ. Vậy bây giờ quay trở lại một chút. Câu chuyện về hóa đơn này nghĩa là trước kia phải đi mua hóa đơn thì bây giờ doanh nghiệp được phép là khi thành lập xong thì doanh nghiệp tự thiết kế cái mẫu hóa đơn mà mình mong muốn, sau đó mới tiến hành cái việc là thông báo cái mẫu đó cho cơ quan thuế họ biết. Rồi đặt nhà in họ in thành từng cuốn để dùng dần. Hoặc tự in= phần mềm= giấy thông thường của chúng ta. Và cuối cùng có một loại nữa là hóa đơn điện tử thì khái niệm hóa đơn điện tử bắt đầu có từ nghị định số 51, nhưng cho đến thời điểm bây giờ nó mới bắt đầu được triển khai nha, tức là đâu đó mất gần 10 5. Đâu đó mất gần 10 5, vậy bây giờ chúng ta sẽ quay về chúng ta nói bắt đầu câu chuyện đầu tiên liên quan đến thuế giá trị gia tăng. Quy định và chế độ về hóa đơn. VAT. Thuế giá trị gia tăng có 2 phương pháp kê khai báo cáo. Có 2 phương pháp. Kê khai. Và báo cáo. Phương pháp thứ nhất đó là phương pháp trực tiếp. Phương pháp thứ 2 đó là phương pháp khấu- Và câu chuyện thứ 2 đó là chế độ hóa đơn.
Done Recognizing Speech Chế độ hóa đơn này nó phục tùng. Cho 2 cái công tác kê khai báo cáo này thế thôi. Vậy bây giờ mọi người nhìn này? Cảm ơn ạ. Kê khai thuế trực tiếp và kê khai thuế khấu- Làm thế nào? Bây giờ chúng ta phải hiểu thế nào là trực tiếp, thế nào là khấu- lại? Để sau này lở may, chúng ta quay trở về câu chuyện về trực tiếp. Thì chúng ta biết bản chất của nó là gì, có phải cái gì o ghê gớm hay không. Bởi vì thông thường từ trước đến nay, doanh nghiệp sinh ra một cái. Là trong các 5 trước, nó có cái mẫu 0, 6 kế toán còn nhớ không ạ? Đúng không ạ? Là cứ đến tháng mười hai là lập tức là làm cái mẫu 0 6 là đề nghị với quý cơ quan thuế là cho phép em tự nguyện thực hiện theo phương pháp khấu trở. Người ta đủ điều kiện nào đó để cho người ta khấu- luôn là tự nhiên, bày vẽ ra cái thông tư cái mẫu 0 6. Song thực hiện được mấy 5 bây giờ bỏ đúng không? Mà ông nào quên không nộp cái đó, cái là đến sang 5 hết hóa đơn phát hành hóa đơn nó không cho phát hành. Vậy bây giờ bản chất chúng ta phải hiểu trực tiếp thì phải thế nào, khấu- là thế nào? Đúng rồi. Còn giải thích cái khấu- cái nào?

Tiếp trực tiếp là thế này nhá. Trực tiếp là không quan tâm đầu vào mua là cái thứ gì? Không quan tâm đầu vào mua giá trị là bao nhiêu? Cứ bán hàng ra một cái là căn theo doanh thu bán ra là chích luôn một tỷ lệ% nhất định. Theo định mức tỷ lệ thuế suất. Của thông tư số 29. Là quất luôn ví dụ. Ví dụ, xây dựng có bao thầu và tư là 5%? Kinh doanh hàng hóa thương mại thông thường là 2%. Một số loại dịch vụ một số loại khác là 1%. Một số loại cung cấp dịch vụ hay là xây lắp mà không bao thầu vật tư là 3%, nó chỉ có 5, 1 2, 3, 5. Đấy, nó không, nó không cần quan tâm là ông có đầu vào hay không, cũng không cần quan tâm là đầu vào bao nhiêu. Không chỉ cần quan tâm là doanh thu bán ra bao nhiêu chiếc luôn một tỷ lệ tuyệt đối cho doanh thu đó kê khai nộp luôn. Thì đó là. Đó là gì ạ? Đó là kê khai, báo cáo thuế theo phương pháp trực tiếp. Trong rất nhiều trường hợp hoặc quy mô doanh nghiệp nhỏ mà đầu vào nó không đều hoặc không đủ điều kiện để lấy đồ vào lời khuyên làm trực tiếp luôn đi cho nó nhẹ. Đừng cố gắng khấu- làm gì cả. Vậy tại sao tôi lại nói là đừng cố gắng khấu- trong khi cả làng là gì ạ? Nhao lên là cho em khấu- với. Vậy ta hiểu bản chất của khấu- Là thả gà ra đuổi. Nhá chứ không sung sướng gì lắm đâu. Thế nào khấu- là thả gà ra đuổi? Bây giờ tôi lấy một cái ví dụ này. Trở lại câu chuyện, ví dụ như kinh doanh nước được chưa? Tôi mua một lô, một xe. Là 1000 chai nước này. Mỗi chai là 5000, mỗi chai là 5.000 VND. 1000 chai là bao nhiêu ạ? Ôi giỏi thế. Thì nếu trong trường hợp không tính thuế chỉ có 5 triệu đồng. Đúng không ạ? Nhưng nếu tính thuế. Tức là cái ông sản xuất cái ông bán cho tôi. Ông có tính thuế giá trị gia tăng, giả sử nó chịu thuế 10% thì để mua trót lọt được cái lô này tôi phải trả giá bao nhiêu ạ? 10% tiền thuế là 5 triệu rưởi, nghĩa là 5 triệu tiền hàng và 500.000 tiền thuế. Không cần biết là tôi mua về để uống hay tôi mua về để bán ra hay tôi mua về để làm gì? Hay tôi mua về tích trữ cứ là gì ạ? Ngay tại thời điểm mua, tôi đã phải lựa ra 500 đã. Đúng chưa nào rồi? Thế thì cái 500 đầu tiên tôi phải trả giá như vậy người ta gọi là tạm trả thôi vì nguyên lý của thuế là thu và tính tại nơi nó phát sinh. Chứ không theo quá trình. Nghĩa là cái ông bán nước cho tôi, ông ấy bán cho tôi trách nhiệm của ông ấy là thu ngay tiền thuế của tôi cái đã. Còn cái chuyện tôi mang về, tôi bán được hay không? Tôi làm cái chuyện gì đấy là chuyện của tôi. Đúng không ạ? À rồi, thế thì khi mà tôi mua vào 5000 với giá 5 triệu, tôi tạm trả 500. Bây giờ tôi mang nước vào tôi nhập về kho tôi chờ tôi bạn. Thì có phải không? Tôi tạm trả 500. Tạm trả. 500.000. Xong, tôi chờ bán. Nếu tôi là đơn vị kinh doanh, tôi chờ bán ra, vậy khi nào tôi bán được cơ? Khi nào tôi bán được? Thì tôi mới lại thu cái tiền thuế. Thu tiền thuế. Của bên mua. Không cần biết đó là bên tổ chức 2 bên cá nhân hay bên gì. Tôi, tôi đang nói làm đúng nhá. Còn các bố bán hàng không xuất hóa đơn thì tôi không nói. Vậy bây giờ giả sử tôi bán ra gì ạ? Tôi mua 1000 nhưng tôi bán được 500. 500 chai. Với giá là 60.000 VND. Vậy ở cái lô này tôi phát sinh là gì? Thuế là 3 triệu. Vậy à? Xin lỗi tiền hàng là 3 triệu+ với tiền thuế là 300. Vậy thì bây giờ mọi người nhìn này. 500, tôi tặng chả đầu vào. Tôi bán được 6 mua mua và 11.000 chai và tôi mới bán được có 500 chai. Vậy thì tôi còn tồn kho bao nhiêu ạ? Tôi còn tồn kho 500. Tồn kho 500 chai và doanh thu bán ra tôi mới thu được có 3 triệu nhưng tiền thuế bán ra tôi mới thu được có 300 k là 300.000. Vậy khấu- có nghĩa là đáng nhẽ ra tôi phải nộp hết 300 này vào ngân sách nhà nước chứ gì? Nhưng vì tôi tạm trả khâu đầu vào 5 trang. Nhà nước cho phép tôi cấn- 2 khoản này với nhau. Gọi là khấu- lại nhá. Bây giờ tôi bù- giữa 2 khoản này, tôi vẫn còn âm bao nhiêu -200 k. -200 k này về mặt bản chất, nhà nước đang cầm tiền của chúng ta. Có phải không? Về mặt bản chất là chúng ta đưa tiền trước. Nhưng nhà nước cũng khổ một cái là ông ấy đứng giữa cũng không biết là cái thằng nó bán cho ta, nó đã nộp cái này chưa? Nó cái thằng này là nhà bên đơn vị bán nó cầm của chúng ta này, nhưng chuyện nó đã kê khai, nộp hay chưa là chúng ta cũng không biết. Cho nên nhà nước mới réo rắt, thằng này là mày phải kê khai nộp ngay. Đúng chưa? Nhưng nếu trong trường hợp đầu vào của thằng này cũng lại lớn hơn 500. Thì cứ như thế, nó gánh gồng lẫn nhau giữa khâu này với khâu khác. Nhưng giả định rằng ở lúc trước kia thằng này nó cũng nộp đủ cái này và ngân sách nhà nước là 500 rồi thì ở lúc đầu ra chúng ta mới thu được có 300, vậy thì đâu đó nhà nước đang giữ của chúng ta 200. Vậy nhưng khi mà người ta giữ con chúng ta 200 thế này này thì trong quy định của luật thuế, nó có điều khoản là nếu khấu- không hết thì để kỳ sau chửi tiếp. Rõ không. Nhưng nếu trong trường hợp giả sử chỗ này tôi bán hết đi 1000 thì có phải là thuế đầu ra của tôi là bao nhiêu? 600, tôi mang 600, tôi cấn- với 500 đầu vào chênh 100 nộp luôn và ngân sách không được trễ ngày nào. Nghĩa là nếu chúng ta thu được thuế của bên mua. Cân với thuế của bên vào mà có phần chênh lệch thì ngay lập tức phải nộp liền. Mà nếu không nộp tiền thì sao? Tính phạt nộp chậm, phạt nộp trợ. Và chậm nộp. Phan trọng nộp là ngày xưa là không. Không 5% tính trên một ngày trên số tiền nộp chậm ngày nay là bao nhiêu? Không. Không 3%. Tính trên một ngày trên số tầm tiền nộp chậm trong 90 ngày đầu. Còn sau 90 ngày lại trở về không. 0 5. Nhưng thông thường thì khó lắm, chúng ta không nợ được tiền thuế lâu thế đâu- trường hợp chúng ta rơi vào loại mà đã cướng chế tài khoản rồi mà vẫn không có tiền nổi chứ. Thông thường đã nợ thuế là chúng ta bị dục này. Bị gọi này bị yêu cầu giải trình bổ sung hồ sơ này đúng không ạ? Yêu cầu xuất trình bổ sung hồ sơ và xuất trình đầu ra đầu vào này. Ấy sau đó là gì ạ? Thông báo nộp xong trong vòng 30 ngày mà không có tiền nộp một cái thì cái việc đầu tiên hoặc qua những chỗ không cần đến 30 ngày đâu, người ta sẽ thực hiện ngay các biện pháp tướng chết huế. Mà biện pháp cương chế đầu tiên là biện pháp hướng chế tài khoản. Cướng chế tài khoản, tức là nó ra văn bản yêu cầu ngân hàng đóng băng tài khoản của chúng ta lại tiền vô công, tài khoản công ty của chúng ta một cái chúng ta không được rút ra, không được chuyển khoản mà phải đợi trích tiền thuế xong cái đã. Thì đấy gọi là cướng chế tài khoản. Nếu nó cướng chế tài khoản à, ông lại lách= cách là ông cho chuyển tại vì tài khoản khác hoặc tài khoản cá nhân ở tài khoản đấy, nó không có tiền phát thứ 2, nó sướng chế hóa đơn. Cướng chế hóa đơn, tức là họ ra một cái thông báo báo trên hệ thống chung của toàn quốc giảm cái công ty đó hóa đơn của nó không còn giá trị để lưu hành. Nhưng cái khổ nhất là lúc nó báo nó không báo cho ta. Nó chỉ báo trên cổng thông tin của ngành thuế thế thôi. Và thậm chí chúng ta không biết rằng mình bị cướng chế hoạt động. Họ có trong báo, nhưng trong rất nhiều trường, nhiều trường hợp là chúng ta nhận được văn bản thì đã bị cướng chế rồi. Tức là cái thời gian người ta gửi văn bản tới con thuế đến doanh nghiệp. Thì nó đã bị cưởng chế trước đó rồi, thế còn gì ạ? Cướng chế hóa đơn thì cũng trong trường hợp như vậy, cho nên rất nhiều doanh nghiệp trong 2, 3, 5 vừa qua nó rơi phải một cái trường. Tình huống là khách hàng và phản hồi về là mày ơi chết rồi, hóa đơn của mày không còn giá trị sử dụng nó thông báo không được. Thì lúc đấy mới biết và tá hỏa ra lúc ấy đã xuất thêm 1 2 cuốn nữa rồi. Và phải tiến hành một bài thu hồi về nhục không thể nào tả nổi. Thì đấy là cẩn trọng cho cái việc này mà cái việc này ở góc độ về quản trị. Ở góc độ về quản trị. Thì các anh chị giám đốc nhớ cho tôi. Đôi khi đôi khi chúng ta không muốn chầy bửa và nợ tiền thuế đâu, nhưng nó có một số lỗi thuộc về quản trị mà các anh chị cần phải nhớ về việc quản lý nhân viên của mình. Việc một. Là khai nhầm. Khai nhận. Thuế có triệu nó quất phát một tỷ. Đúng không ạ? Thường một con số. Một là khai nhầm thứ 2 cái nguyên nhân thứ 2 dẫn đến việc chúng ta không đủ tiền để nộp thuế. Ngay lập tức, tại thời điểm nộp thuế đó là do gì ạ? Không có sự chuẩn bị. Không có sự chuẩn bị. Vậy khai nhầm thì tôi không nói rồi nhá. Thứ 2 là không có sự chuẩn bị là thế nào? Ví dụ, hiện nay kỳ kê khai báo cáo thuế giá trị gia tăng nếu doanh thu của 5 trước liền kề là trên 50 tỷ là kì 2 tháng mà đã là kỳ kê khai tháng là ngày 20 của tháng kế tiếp kì cái sai quý là ngày 30 của quý kế tiếp. Thế nhưng mà bây giờ thường ấy nhiều doanh nghiệp là dùng dịch vụ kế toán thuê, ngoài thế là gì ạ? Nó cứ làm giết, giết, giết, giết, giết tận cái ngày cuối cùng. Thậm chí trước cái số cũng đưa cho nó. Phải hông hoặc trước cái số đưa cho nhân viên nhân viên mang về nhà. Thế là đợi đến ngày cuối cùng nó mới ngoáng ngoàng, nó làm cái tờ khai nộp cái vụ phát lên thế là phát sinh nghĩa vụ nộp thuế liền. Và nó nộp ở cái ngày cuối cùng đấy thì về mặt nguyên tắc đúng cái ngày nộp tờ khai đấy chính là cái ngày nộp thuế luôn.

Vậy thì. Cần có sự chuẩn bị, nghĩa là doanh nghiệp phải yêu cầu bộ phận kế toán, nhân viên, kế toán hoặc bên cung cấp dịch vụ kế toán. Trước cái thời hạn mà kê khai nộp thuế đó. Ít nhất một tuần ít nhất nha. Là phải tạm báo cho các anh chị biết dự kiến số tiền thuế sẽ phải nộp trong kỳ này đối với thuế giá trị gia tăng. Vì rất có thể thuế phải nộp kỳ này là 2 tỷ. Nhưng tại cái ngày nó đẩy tờ khai lên, tôi không có tiền. Nhưng nếu tôi có sự chuẩn bị trước một tuần trước đó 10 ngày trước đó thì tôi biết số tiền thuế là bao nhiêu để cho cân đối lại cái tiền? Thì đây là động thái mà doanh nghiệp nên làm. Là luôn luôn yêu cầu. Kể cả các anh chị thuê ngoài dịch vụ kế toán hay nhân viên các anh chị tự làm. Thì nhớ cho tôi, nếu khai chính trị khai theo tháng. Từ ngày 20 hết hạn đấy thì đâu đó vào khoảng ngày 12 là phải tạm báo cho các anh chị biết số tiền rồi tránh trường hợp là bụp một phát đến ngày 20. Nó anh ơi, hôm nay em nộp tờ khai thuế xong rồi nhá tiền thuế đã nộp 2 tỷ ấy chết rồi ngay lập tức làm sao để có tiền 2 tỷ đây? Đấy hoặc là thậm chí này. Đôi khi chúng ta thuê dịch vụ kế toán thuê ngoài. Người ta nộp tờ khai xong, chúng ta cũng đâu có biết. Vì ngày xưa còn ký tá đóng dấu chứ bây giờ là gì? Nó khai xong chữ cái số nó cũng cầm luôn đúng không? Nó nộp. Nó nộp xong rồi, nó cũng chẳng báo với chúng ta là gì, phải nộp thuế hay không phải nộp thuế treo luôn ở đấy. Sau đó thì bị phạt một chợ. Trường hợp này nó xảy ra khá nhiều trong đôi 3, 5 vừa qua, đặc biệt ở những nơi hoặc doanh nghiệp nào chưa thực hiện nộp thuế online vẫn mang đến ngân hàng với các thứ để nộp đấy. Đấy thì ở cái chỗ này là chỗ tôi đưa ra cái lời khuyên nhỏ như thế ở cương vị giám đốc và người quản lý doanh nghiệp, 2 anh chị nắm được rồi, bây giờ quay trở lại ta vừa mới quay vừa mới thông qua nhau được. Thế nào là trực tiếp và thế nào là khấu-

Đăng ký thuế giá trị gia tăng có 2 phương pháp kê khai là trực tiếp và khấu- Cho nên cho nên thằng nó mới có các loại hóa đơn sau đây này. Thằng nào kê khai theo phương pháp trực tiếp? Thì anh sử dụng hóa đơn bán hàng. Ông nào kê khai khấu- thì ông sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng. Vậy thì về mặt bản chất, cả 2 loại hóa đơn này đều là hóa đơn giá trị gia tăng. Nha hóa đơn bán hàng hoặc hóa đơn bán hàng thông thường ấy. Về mặt bản chất, nó cũng là hóa đơn giá trị gia tăng. Nhưng đó là hóa đơn giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp, nghĩa là không có phân biệt tách biệt giữa tiền hàng và tiền thuế và được hiểu rằng giá thanh toán đã bao gồm thuế trong đó. Còn ông nào kê khai khấu- thì vì nó phải liên quan đến cái động thái là đầu vào với đầu ra- cho nhau. Cho nên cái loại hóa đơn thứ 2 là họ gọi là hóa đơn giá trị gia tăng thì nó có phân biệt ra tiền hàng và tiền thuế riêng, cái mà chúng ta vẫn thường sử dụng đấy.

Viết một bình luận

Bài viết liên quan